• 沒有找到結果。

越南童話與別國童話的差異

第四章 越南童話的特徵

第二節 越南童話與別國童話的差異

Truyện cổ tích Việt Nam là những truyện truyền miệng dân gian kể lại những câu chuyện tưởng tượng xoay quanh một số nhân vật quen thuộc như nhân vật tài giỏi, nhân vật dũng sĩ, người mồ côi, người em út, người con riêng, người nghèo khổ, người có hình dạng xấu xí, người thông minh, người ngốc nghếch và cả những câu chuyện kể về các con vật nói năng và hoạt động như con người. (維基百科,2009b)

(越南童話是口傳文學的一類,講述的是關於一些典型、與眾不同的人物。包括:

英雄、孤兒、聰明人、愚蠢人、窮人、私生子女、家中常被忽略的老麼、長相奇 特的人……另外還有關於一些像人類會說話及活動的動物)

越南Truyện Cổ Tích 也具有世界各國童話故事的特點:奇幻色彩、萬物有靈,

萬物都具有人的特點、 擬人(手法)、誇張、變幻、奇特等特徵。是越南人民長期 以來經驗智慧的結晶,是越南民族的寶貴財富。綜合世界中西方的童話論,我試 圖將以上論述來加以擴充、容納越南童話故事,來彰顯出越南童話的獨特之處,

而過去被童話研究者忽略的議題。

第二節 越南童話

一、神話與童話

亞洲童話自然也分古代童話和現代童話、民間童話和作家童話。但世界上的 童話學者們對亞洲童話的瞭解和研究得最多的還是亞洲民眾創造的童話。這些反 映人民智慧和善良願望的童話,過去和現在都讓世界兒童一開卷就沉迷於神奇、

豐富、美麗、驚險的世界,一展讀就看到人類對於幸福、正義的勇敢追求,和人 類最大限度地實現自己卓越才能的理想。(韋葦,1991:22) 研究亞洲童話的學者 多半都只談論到中國、印度、日本等國家,而越南童話卻少提及,顯然是一大缺 失,這點上節已論述過。越南是多元種族的國家,已有四千年建國與護國的歷史。

這四千年來已建立了獨有的文化特色,凡是越南人都感到自豪的是龐大有價值的 民間文化作品,當中童話故事數量最多。(Nguyễn Cừ ,2008:5)

越南童話也屬民間文學的一類,越南民間文學歷史悠久,內容豐富多彩、充 實、健康,形式多種多樣。它是越南早期古代文學的基礎的主流,是越南文學寶 庫中不可或缺的。(謝群芳,2004) 越南童話充滿民族特性,它是由各個民族所處 的自然環境不同造成的,越南總有五十四個民族,各個民族帶有自己族群的文化 特色,這與自然環境相連繫是民族的性格、習俗,童話能反映出各民族的生活世 界。由於現處臺灣求學,對越南童話研究抱有興趣。可惜力不從心,蒐集關於越 南童話研究資料有限,網路資料對越南童話研究講述分散,不成系統。資料有所 不足,並期待往後蒐集作後補。我現在從所蒐集到的資料作分析並統整。

越南童話與越南傳說二者有共同特徵,難以區分。諸多出版社所出版的童話-神話故事都有重複。謝群芳給越南民間文學的界定是由:民間故事、民間歌謠、

俗語以及最初的民間舞臺形式嘲劇構成。(謝群芳,2004) 民間故事主要是講述與 越南歷史人物和歷史事件相關的事情,它有四種題材:神話傳說、古代故事、寓 言和笑話。(同上) 上述沒有提到童話,也有可能已把童話納入了神話傳說中或古 代故事中。這也可以理解,因為三者都有共同的特點,都是人民大眾創作並傳播 的,是越南長期以來經驗智慧的結晶,是民族的寶貴財富。

越南神話的名稱是「Thần Thoại」,而 Vũ Ngọc Khánh 編輯的《Kho Tàng Thần

Thoại Việt Nam》給神話下的定義是:

Thần thoại là hình thức sáng tác của con người thời đại xa xưa, nó thể hiện ý thức muốn tìm hiểu, lý giải và chinh phục vũ trụ của con người。Luôn tiếp xúc với thiên nhiên kỳ vĩ, bí ẩn, con người đã hình dung, lý giải thiên nhiên bằng trí tưởng tượng của mình, tạo ra cho các hiện tượng xung quanh mình những hình ảnh sáng tạo, những câu chuyện phong phú, hình dung ra các vị thần lớn lao, những lực lượng siêu nhiên, hữu linh. Bằng cách đó con người đã làm ra thần thoại. (Vũ Ngọc Khánh,2006:5)

(神話是古代人民的創作形式,體現了人民要探求、理解和征服宇宙的渴 望。對大自然的自然風物、神秘世界,人民憑著自己的想像試圖要解釋宇 宙萬物,給周遭事物創發出離奇、有趣的故事來解釋它。幻想出有靈的,

具有超現實能力的神像。由此人民創造出神話)

Theo cách phân chia truyền thống có thể phân thần thoại Việt Nam thành các nhóm chính như sau:

(一) Nhóm thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên.

(二) Nhóm thần thoại kể về nguồn gốc các loài vật.

(三) Nhóm thần thoại kể về nguồn gốc loài người.

(四) Nhóm thần thoại kể về các anh hùng văn hóa, chinh phục tự nhiên.(Vũ Ngọc Khánh,2006:6 )

(依據傳統的分法,可以把神話歸納成:

(一)用來解釋宇宙根源和自然現象的神話。

(二)用來說明及解釋動物的來歷的神話。

(三)解釋人的來歷的神話。

(四)解釋能征服自然的英雄人物)

神話根據一定的歷史事實反映生活是透過虛構、誇張、幻想等藝術手段來加 工的。講述的都是一些歷史人物、歷史事件、地方古蹟、動物、自然風物,社會 習俗有關的民間故事。它源於古代人原始素樸的思維和豐富的想像所得來的。至 於童話「truyện cổ tích」,越南童話也是用像神話的虛幻、誇張、幻想手法來講述 關於人、動物、英雄……這都是原始人用以直觀的方式而不是用理性科學的方式 來認識和把握世界。也可以說原始思維中蘊含著豐富的藝術內質。隨著歷史的不 斷推進發展,人類不斷地對生活與社會體驗、探討、演變,逐漸將這些內質轉變 為基本藝術思維的特徵。童話也無意識中記錄了人類的命運與心理,重複了祖先 的歷史中不斷經歷的悲歡喜樂;另一方面它又記載了個體的經驗和智慧。由於敘 述時間、主體、方式、事物、特徵都一樣,所以對越南人民來說,他們都認為童 話就是神話、神話中有童話的說法。童話與神話中的故事是一樣的,只是不同的 民族,敘述方式有所不同。它們的共通點是,都屬民間文學的一種。越南人民耳 熟能詳的民間故事包括:<Tấm Cám> (越南灰姑娘)、<Sự Tích Mai An Tiêm>

(西瓜的故事)、<Sự Tích Bánh Chưng-Bánh Dày> (粽子的來源)、<Sơn Tinh và Thủy Tinh> (山神與水神)、<Phù Đổng Thiên Vương> (扶董天王的故事)、<Lạc Long Quân và Âu Cơ> (龍子仙孫的源由)、<Sự Tích Trầu Cau> (檳榔的故事)、

<Hồ Hoàn Kiếm>(還劍的故事)……這些經典故事在 Nguyễn Cừ 的《Truyện Cổ Tích Việt Nam》(《越南童話故事集》)與 Vũ Ngọc Khánh 的《Kho Tàng Thần Thoại Việt Nam》(《越南神話庫》)中都能找到。一本是蒐集神話故事的專書,一本是蒐 集童話故事的專書,但是為什麼會出現同樣的故事?這幾名神話、童話的研究者 並沒有刻意把它們細分開來,或者是因為共同點太多了不需要區分。根據前幾節

的論述,我認為童話與神話最大的區別是:神話的對像是群眾人民,而童話的對 象則是以兒童為主。童話是一種非常自覺的文體,承載著成人們對兒童的關懷和 愛心,它在滿足兒童們愛好幻想的興趣,藉著兒童的好奇心與求知慾,來向他們 傳授個人和種族的經驗與智慧,使他們能更快更好的面對自己的內心與外在的世 界,慢慢融入社會。

二、越南童話

第一章第一節已提過:

Trong một cuộc hội thảo về sức sống văn hóa, khi giới thiệu nền văn học dân gian Việt Nam và chỉ riêng mảng truyện cổ tích, các học giả Châu Phi đã phải kinh ngạc vì truyện cổ tích việt nam có quá nhiều, dân tộc ít người nào cũng sưu tầm công bố được vài ba tập, tổng cộng lại tới hàng trăm tập dày mỏng khác nhau. Hơn nữa, truyện cổ tích của ta, truyện nào cũng hay, cũng mang nội dung xã hội, lịch sử sâu sắc và được truyền tụng lâu dài từ đời này sang đời khác. (Nguyễn Cừ ,2008:5)

(在一場探討「文化活力」的研討會中,在介紹越南民間文學方面,非洲 學者對越南童話大吃一驚,由於童話故事幾千年來留下的數量太驚人了,

幾乎每個小數民族都有好幾則的代表作。再者,我們的童話故事,每則都 帶有深刻的社會、歷史因素,而且流傳至今千百年了)

由上述可知,越南童話的數量可是驚人,所以將童話故事分類、排序、整理 也是一件艱難的事。如果只根據童話故事的體裁來分類,那就容易多了。但是如

果將故事的體裁再細分成小主題或依據故事歷史、正-副主題、故事所要反映的內 容來分類,卻不是一件容易的事。越南童話的歸類有不少學者都提出不一樣的分 類法:

Vào nửa thế kỉ XX, có 3 cách phân loại được coi là tiêu biểu. Đó là Nghiêm Toàn trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu (nhà sách Vỉnh Bảo, Sài Gòn xuất bản năm 1949) phân loại Cổ Tích thành bốn:

(一) Truyện mê tín hoang đường.

(二) Truyện luân lý, ngụ ngôn.

(三) Tuyện phúng thế hài đàm.

(四) Truyện sự tích các thánh. (Nguyễn Cừ,2008:8)

(20 世紀中葉,有 3 種分法相當有代表性。一是Nghiêm Toàn 在《Việt Nam Văn Học Sử Yếu》(1949) 把童話故事分成 4 類:

(一) 荒唐、迷信的故事。

(二) 倫理、寓言的故事。

(三) 奉世、笑話的故事。

(四) 神的故事 )

Đốc học Nguyễn Văn Ngọc trong Truyện Cổ Nước Nam (Thăng Long xuất bản năm 1952-NXB khoa học Xã hội tái bản năm 1990) có viết: có thể phác ra làm 5 mục như sau:

(一) Những truyện thuộc về lối cổ tích hoặc dã sử, cha mẹ hay ông bà tối tối thường truyền tụng.

(二) Những truyện mà kết cục đã thành câu phương ngôn, lý ngữ, hoặc trái lại,

xuất xứ từ những câu lý ngữ phương ngôn ấy.

(三) Những truyện thuần về văn chương trong đó có những câu ca, bài hát nôm na mà vui thú, giản dị tự nhiên , xưa kia đâu đó vẫn truyền tụng.

(四) Những truyện ngụ một ý sâu xa thuộc về triết lý, may ra so bì được với Bách Tử bên Trung Quốc và sau này, có thể đem vào môn học cổ điển nước nhà.

(五) Những chuyện vui chơi cười đùa có lý thú để tiêu sầu nhưng chưa quá thuộc về cái gọi là “tiếu lâm”, mà các nhà nghiệt giọng vẫn quen chê là nhảm nhí. (Nguyễn Cừ,2008,9)

(Nguyễn Văn Ngọc 教授在 《Truyện Cổ Nước Nam》1952 年 Thăng Long 出 版社出版。1990 年初版第二刷,當中將越南童話歸納成 5 類:

(一) 屬古代故事的一類,父母或爺爺奶奶夜晚會講的故事。

(二) 一些故事的結局會成為歷代傳誦的俚語、方言,或者是從這些俚語、

方言所延伸出來的故事。

(三) 專屬文學的一類,其中帶有豐富色彩、有趣、好笑、單純人民情感 的歌謠、民歌,而民間一直傳誦著。

(四) 充滿哲理,意義深刻的故事。可以用來與中國- Bách Tử (白子)相 比,可以引用至本國古典學科中。

(五) 屬於幽趣,好笑可以用來消遣時間的故事,但又不至於是「笑話」,

而一般「批評讀者」常認為此類過於「無趣、荒唐」)

以上兩位學者都有同樣的認為,從故事特徵的角度對童話作了精細的歸類。

從越南民間童話,剖析它們的結構型態,發現童話可以從人物、情節、屬性的不 同來作區分。有的可以延伸為俚語、俗語,甚至可以從俚語、俗語的緣由來編輯

一則故事,以便傳承。這也是越南童話特別的地方。

Bách Khoa Toàn Thư Mở WIKIPEDIA根據故事人物及情節屬性童話故事分成 3 類 (維基百科,2009 b):

(一) Truyện cổ tích về loài vật: chuyện ngụ ngôn những con vật nuôi trong nhà, khi miêu tả đặc điểm các con vật thường nói đến nguồn gốc các đặc điểm đó:

Trâu và ngựa, Chó ba cẳng...; nhóm hoang dã là hệ thống truyện về con vật thông minh, dùng mẹo lừa để thắng các con vật mạnh hơn nó: Cóc kiện Trời, truyện Công và Quạ. Truyện dân gian Nam Bộ về loài vật có: Tại sao có địa danh Bến Nghé, Sự tích rạch Mồ Thị Cư, Sự tích cù lao Ông Hổ...; chuỗi Truyện Bác Ba Phi: Cọp xay lúa...

[(一)動物的故事:以關於家中所養的動物來敘述,敘述時會以動物的特 徵為描述重點,以便解釋動物的緣由,如:Trâu và ngựa (牛與狗)、Chó ba cẳng(三腳狗)。或是在描述一些聰明的動物,用巧法來欺騙、打倒比它們 強大的動物,如:Cóc kiện Trời (蟾蜍向天申訴的故事),Truyện Công và Quạ (孔雀與烏鴉)。或南部地區動物的故事,如:Tại sao có địa danh Bến Nghé (Bến Nghé 地區的來歷)、Sự tích rạch Mồ Thị Cư, Sự tích cù lao Ông Hổ...chuỗi Truyện Bác Ba Phi: Cọp xay lúa...]

(二) Truyện cổ tích thần kỳ: chuyện thần thoại Cổ tích thần kỳ kể lại những sự việc xảy ra trong đời sống gia đình và xã hội của con người. Đó có thể là

những mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình phụ quyền, vấn đề tình

những mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình phụ quyền, vấn đề tình