第二章 文獻探討
第四節 越南語及外語語音教學之相關研究
陳心怡(2007)在碩士論文「越南籍新住民華語語音偏誤及教學策略研究」
所提出的研究結果,針對越南籍新移民對於學習華語語音的偏誤分析,提供下列 幾項語音教學要點。
一、 主要原因的偏誤
這個部分觀察到幾項重點,越南籍學習者常常遇到這些問題:(1)舌位降低,
例如「滅、爹、姐、…」等字,本韻是「ㄧㄝ(ie)」的結合,但越南學習者常 常把聲音降低到只剩下「ㄝ(e)」韻;(2)舌位上升,例如「捐、元、選、…」
等字,在生活上可能接觸大部分都是台灣式國語,因此偏誤的地方在於把「ㄩㄢ
(üan)」都念錯成「ㄧㄢ(ian)」的韻;(3)舌位硬化,例如「江、想、娘、…」
等字,主要原因皆為「ㄚ(a)」韻,但大部分的越南籍學習者會誤聽而搞錯變成
「ㄝ(e)」韻;(4),單元音變復原音,例如「女、需、去、…」等字,因為越
26
南語沒有「ㄩ(ü)」的聲音,聽者會把它唸為「ㄨㄧ(ui)」的韻,甚至於有人 直接誤會成「ㄧ(i)」韻。
二、 介音的偏誤
介音也有幾項錯誤的問題:(1)介音弱化,例如「火、瓜、託、…」等字都 有「ㄨ(u)」為合口呼的介音,但大部分都忽略這個介音而直接唸到該文字的主 要原因;(2)介音消失,例如「先、列、別、…」等字都是以「ㄧ(i)」為齊齒 呼的介音,而大多數也忽略這個介音;(3)改變介音,例如「巡、雲、均、…」
等字之介音為「ㄩ(ü)」,但大部分都唸成「ㄧ(i)」韻。
三、 韻尾的偏誤
最大的錯誤在於「ㄧㄣ(in)」和「ㄧㄥ(ing)」韻,這是韻尾弱化的現象,
大部分都把它們搞混,直接把舌頭降低為「ㄧㄥ(ing)」韻。
從陳心怡所提出討論之結果,研究者發現這也是語音教學最基本的要求,大 部分都是從聲韻母、韻尾、聲調、…等基本語言知識著手挖掘。至於陳先生對聲 調不怎麼提出特別的偏誤分析,其中的原因研究者大概略之一二,因為可能越南 語本身也有聲調,只是發出來的高度與中文略有不同,因此學習者可能一時轉換 不過來所以說話的時候難免會有結巴的狀況。
研究者認為除了聲韻母、聲調、韻尾等基本語音要素之外,語音教學應該也 是一種語言比較,目的語和母語(或學習者所熟悉的語言)做出比較,這也是容 易獲得更好的效果之途徑。
Phan Văn Giưỡng(2010)以人口來計算,越南語是世界使用最多的排行前 10 名之一(排名順序:中文、印度話、印尼語、美式英語、俄文、日本語、墨 式西班牙語、越南語)。由於教育、文化、經濟、政治、商業、外交、工作、...
的利益,越南語言及文化在許多國家的大學裡面漸漸興起如:中國、俄國、美國、
日本、法國、英國、澳洲、韓國、新加坡、...
研究者認為國與國簽約共同發展經濟的協定,想要互相交流、合作、共同建
27
立社會必須要互相了解對方。而語言就是能夠拉近這種問題的橋樑,你想要與人 合作而溝通上相互不明白對方的話,那麼合作還有意義嗎?
十年前的越南人拼命去學外國語言,而政府也不會推廣越南語。其實越南語 最初被教給外國人的時候已經有一百多年的時間了。最大的功勞就是Trương Vĩnh Ký 博學,在法國統治的時代他負責編排越南語當作越南當時的外文課程。
越南語教學的歷史上,研究者相信各位越南語學家必須經過不少艱難、欠缺不少 材料、人力以及方法。因此在本篇的開頭,研究者才大膽地說越南語教學在台灣 是一門相當新奇的學科,或許不僅只有台灣在其他地方也相當稀少。不過也會有 一些愛好研究的學者,專門試圖解剖語言的奧秘,針對越南語教學方法以下有幾 篇學者的回顧:
東京大學越南語系的教授 Hiroki Tahara(1997)曾經發表:「根據現在的越 南語教程,就算再花幾年的時間也學不了。意味著語言教學的方法、越南語教學 的方法不符合實際,不能夠答應社會上的需求,教與學都沒有效果。」(Theo giáo trình hiện nay thì học mãi tiếng Việt mà không nói được gì cả. Câu nói nầy có nghĩa là phương pháp giảng dạy ngoại ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng, không còn phù hợp với thực tế, không đáp ứng được yêu cầu của người học và xã hội, tức là dạy học không hiệu quả,引自 VCAA, 2004)。
因為以往越南語的教學不被重視,有的教師甚至於馬馬虎虎地帶課,沒有真 正把心投入在這門學科裡頭,造成學生學後而沒有任何效果。以上 Hiroki Tahara 教授的論點,我們可以涉及到造成這些不良效果的原因應該是:a) 教學方法不 適當,b) 缺少實用性,滿足不了學生就業的需求。
Lê A, Nguyễn Quang Ninh & Bùi Minh Toán(1999)說明:「直到 1984 年,
越南教育部才正式提供給師範大學和專科學校的教師們,培訓越南語教學方法這 門學科」(Ngay cả phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh, sinh viên Việt Nam, mãi cho tới năm 1984, mới có quyết định chính thức của Bộ Giáo Dục và Đào tạo đưa
28
môn phương pháp dạy tiếng Việt vào chương trình đào tạo giáo viên trong các trường cao đẳng và đại học sư phạm)。
其實找到這篇文章閱讀的時候,研究者非常訝畏,就本身以越南語為官方語 言的越南,要經歷那麼長的時間才把國家母語初步培訓。研究者在想是不是有點 晚?但安慰的是至少還有個起步讓其他國家漸漸學習起來。說到這一點,研究者 在十幾年前還在念初、高中的時候,越南的本國生,他們其實對學習外語比較會 感興趣,因為母語課的教學方法十分枯燥,沒有活力,我們外文的分數比母語課 的分數還要考得高。所以研究者覺得教學方法十分重要,帶給學生興趣更是每一 位語文老師不斷培養的地方。
Nguyễn Hưng Quốc(2012)針對越南語的難點提出了一些事項提供給從事海 外的越南語教學之教師們做參考,比較以及留意。
一、
語言教學本身是很難,教與學第二外語得難點更加上一層。越南語 在海外教學只是一小小部分,通常只會在學校接觸得到,就算一年的課程也難以 獲得好效果(Thật ra dạy ngôn ngữ nào cũng khó, học và dạy ngôn ngữ thứ hai lại càng khó hơn. Các thầy, cô giáo mà kém chút xíu, hậu quả sẽ thấy ngay tức khắc, bởi vì các em chỉ học tiếng Việt ở nhà như một phần nhỏ thôi, phần ở trường, ở lớp, nếu thầy, cô giáo dạy kém không có hiệu quả, thì sau một năm học, tiếng Việt của các em sẽ không thay đổi gì cả)。二、
一般學者把語言分成兩種:第一種是商務、經濟的語言,比如說華 語是跟經濟相關的語言,學華語是為了工作賺錢。而越南語雖是世界語言的一種,卻沒有被重視,只當作是世界共有的語言而已,根本沒有什麼經濟、商務的意義。
(Người ta chia ngôn ngữ thứ hai thành hai loại: thứ nhất là ngôn ngữ về kinh tế, về thương mại chẳng hạn. Ví dụ mình học tiếng Hoa, tiếng Hán là những ngôn ngữ liên quan đến vấn đề thương mại, mình học để kiếm việc làm hoặc giao thiệp; còn ngôn
29
ngữ tiếng Việt của mình thật ra đó là ngôn ngữ cộng đồng, nó chưa có ý nghĩa về kinh tế hay thuơng mại gì cả)。
三、
海外學習的人其實也很艱苦,越南語課必須在周末上課,會造成學 習者的心理作用尤其是小朋友們(Các em học tiếng Việt ở hải ngoại rất khó, ngay tại Úc hay Mỹ, các em chỉ học tiếng Việt vào cuối tuần, và thời điểm cuối tuần như vậy không hề thuận lợi cho các em, giờ giấc như vậy chắc chắn không thuận tiện về phương diện tâm lý với các em。四、
越南語的稱呼詞太複雜。我們用一個簡單的詞來比喻,當說起 “He”這個詞來,大家的印象就是一個男人,但是在越南語的翻譯可能是「那個哥哥」、
「那個叔叔」、「那個老翁」或者是「那個混蛋」(tiếng Việt có tính cách ngữ cảnh cao, chúng ta lấy một ví dụ đơn giản khi nói về chữ “he”, dịch thuận miệng là ông ấy, nhưng chính xác mà nói trong tiếng Việt nó có thể là “anh ấy”, “chú ấy”, “ông ấy”
hoặc thậm chí có thể là “cái thằng ấy”)。
五、
越南語有太多的不規則。我們都知道 “bất” 在越南語中就是「不,沒」的意思。例如:“bất tử” 就是「不死」的意思, “bất hiếu” 是「沒有孝順」
的意思。但 “bất thình lình” 就是沒有這個「不」和「沒」的本意了,而莫名其 妙轉換成突然間的意思(trong tiếng Việt chứa rất nhiều nghịch lý. Ai cũng biết “bất”
có nghĩa là “không”. Ví dụ: “bất tử” có nghĩa là không chết, “bất hiếu” có nghĩa là mất dạy. Nhưng trong chữ “bất thình lình” thì lại mang nghĩa là đột nhiên)。
越南語的本質是很難,但由Nguyễn Hưng Quốc 教授所發表的論點,研究者 更清楚說其實越南語的教學很難很難。越南語很多地方不是可以能夠解釋清楚的,
甚至於要有靈感體悟才能領悟到該語音的涵義。其實從事越南語教學的教師們都 應該知道是沒辦法編輯教材的,而且會有不少挑戰。不過有挑戰才是有研究的啟 發,相信將來對於這門學科會有不少人一起研究討論。
30